Anh Trung than thở: “Cam nào trồng lâu năm thì trái chỉ đậu chừng 50%, dù ra hoa nhiều nhưng bụi than bám nhiều quá, dễ bị rụng
Kiều Ngân. Xử lý theo phương pháp này, Nhà nước sẽ tương trợ kinh phí 50% cho mỗi hộ. Trong khi vốn đầu tư cao nên vụ nào cũng lỗ vốn vì bón phân nhiều”. Không chỉ mang lại ích cho người sản xuất, nghề làm than củi còn giải quyết một lượng cần lao nhàn rỗi địa phương. Bình thường, mỗi lò than cần lóng 10 cần lao, từ khâu khuân vác củi, than thành phẩm, chất củi vào lò, lấy than ra lò… làng nhàng, mỗi ngày công người lao động thu về từ 200.
Có kinh nghiệm làm than củi trên 30 năm, bà Đặng Thị Bé Ba - ấp Hòa Thành đang sở hữu 12 lò than cho biết: “Tính ra thời buổi này làm than có ăn hơn làm vườn. 000 đồng. Cấm không được, giải quyết không xong Vườn cây ăn trái của anh Trung toàn thân cây đen kịt Đặc thù của Xuân Hòa là trồng cây ăn trái nhưng nhiều năm nay khói bụi tràn lan, cây trồng không phát triển được.
Dự trù là vậy, nhưng khi khảo sát nhiều hộ dân, việc di dời làng nghề và xây dựng hệ thống xử lý khói không dễ thực hành chút nào bởi theo anh Nguyễn Văn Hoằng – viên chức địa chính xã Xuân Hòa, trước đây Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Sóc Trăng đã thí nghiệm xây hệ thống xử lý khói tại một số lò than, nhưng chưa có hiệu quả nên tình trạng ô nhiễm môi trường càng ngày càng trầm trọng hơn.
000 -300. Tôi cũng đi họp ở xã nhiều lần, nếu theo hướng giải quyết bằng cách xây dựng hệ thống xử lý khói bụi thì dân không theo nổi.
200ha diện tích cây ăn trái như cam, bưởi, sầu riêng, măng cụt, xoài… Qua kết quả khảo sát, những vườn nằm trong vùng bán kính 500m nơi có lò hầm than, năng suất giảm 50% so với nơi khác.
Di dời những ấp có vài lò lẻ tẻ về 2 ấp Hòa Thành, Hòa Lộc để tụ họp sản xuất. Hai ấp Hòa Thành và Hòa Lộc có 662 lò than hầm củi.
Ông Nguyễn Thanh Trơn - ấp Hòa Phú, xã Xuân Hòa nói: “Nhà tui có 3 lò hầm than, nếu dời qua ấp khác rồi nhà cửa với vườn cây ăn trái bỏ đâu.
Mỗi mẻ lò thu lợi nhuận ít ra cũng trên 5 triệu đồng. Không chỉ thế, khói, bụi còn ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe người dân trong xã, nhất là người già và trẻ mỏ. Theo nhiều hộ dân trong nghề cho biết, làm than củi lợi nhuận dù không cao nhưng cũng đem lại thu nhập ổn định cho bà con.
Do vậy, trái kém chất lượng nên thương buôn không mua hoặc mua với giá thấp. Nên chi, nhà vườn lỗ nặng khi đầu tư trồng cây ăn trái. Không chỉ vậy, khói bụi từ các lò hầm than ở Xuân Hòa cũng là nguyên cớ khiến nhiều thợ chụm lò, người già, con nít ở đây bị các bệnh liên quan đến đường hô hấp như viêm mũi, viêm phế quản… Những hộ nuôi gia súc trong vùng cũng than, đàn gia súc dễ bị nhiễm bệnh từ khói bụi.
Việc làm cũng thẳng tính nên nhiều hộ không có đất và vốn sản xuất cũng có thể sống được với nghề làm mướn này. Như ông Luận bộc lộ, định hướng sắp tới nghề làm than Xuân Hòa sẽ tập trung thành một làng nghề, xây dựng hệ thống xử lý khói bụi bên cạnh lò than để hạn chế ô nhiễm môi trường.
Đã nhiều lần dân đề đạt nhưng địa phương chưa giải quyết được vì đây là làng nghề truyền thống, không bắt họ bỏ được, chỉ cấm xây thêm lò nhưng nhiều hộ vẫn dấm dúi xây
Anh Nguyễn Văn Trung - ấp Hòa Thành có 8 công vườn trồng cam nhưng 3 năm rồi cây không lớn nổi, toàn thân cây và trái đen sì vì khói bụi nên không ai mua. Không chỉ gặp khó khăn về phương pháp xử lý khói bụi mới mà theo lời anh Hoằng, hiện ngành chức năng đang có kế hoạch tập hợp các lò than vào một vùng thành một làng nghề, song, công tác khai triển còn “thắt nút” vì các ấp như Hòa Phú, Hòa An có vài lò không chịu di dời.
Lợi bất cập hại Lò hầm than Ông Huỳnh Văn Luận – Bí thư Đảng ủy xã Xuân Hòa cho biết: “Toàn xã có 742 lò hầm than, tập kết cốt yếu ở 2 ấp Hòa Thành và Hòa Lộc. Mặt khác, hiện tại đầu ra của nghề này rất ổn định vì có hiệp đồng với các thành thị lớn như TP HCM, Côn Đảo, Phú Quốc, Đài Loan và các doanh gia khác đến thu mua tại chỗ, không sợ tồn đọng hàng.
Theo bà Bé Ba, làm than có lợi ở chỗ sản phẩm làm ra nếu được giá thì chủ lò bán ngay, còn thấp quá thì trữ lại chờ giá tăng, mà giờ thị trường than rất được ưa chuộng nên việc thua lỗ ít khi xảy ra. Xuân Hòa được chọn là xã xây dựng nông thôn mới của huyện Kế Sách, giờ các ngành chức năng đang đau đầu vì vướng phải tiêu chí liên lạc nông thôn và tiêu chí về môi trường.
Vả, giá trị kinh tế từ làng nghề đem lại thu nhập rất cao và không có luật nào cấm họ làm nghề này nên địa phương chẳng thể phạt mỗi khi dân dấm dúi xây lò. Trung bình mỗi lò sinh sản ra 10 tấn than/lần đốt, lợi nhuận thu về khoảng 10 triệu đồng/45 ngày. Các lò này tuồng như hoạt động suốt ngày và không có hệ thống xử lý khói bụi, khiến cảnh vật xung quanh mọi thứ đều mang một màu đen, kể cả cây cầu Xuân Hòa được sơn màu xanh cũng đen kịt, không khí nặc mùi than.
Cũng nhờ các hầm than này mà đời sống bà con trong vùng trở thành khá giả”. Với lại, nếu dời đi phải tốn tiền mua đất khác, xây lò than lại, dời nhà cửa, nhiều phí lắm”.
Nếu có trái thì teo tóp, bên ngoài đóng một lớp bụi than đen. Những lúc giá củi rẻ, giá than tăng cao thì lợi nhuận còn tăng gấp 2 - 3 lần”. Tuy nhiên, đằng sau cái lợi đó thì làng nghề hầm than Xuân Hòa là nơi xoành xoạch gây ô nhiễm khói bụi, ảnh hưởng tới sinh sản cũng như sức khỏe của hàng ngàn hộ dân nơi đây.
Nhưng kinh phí đầu tư quá lớn, vốn sản xuất của người dân còn ít, thành ra dự án mới chưa được khả thi.
Còn cây trồng cách đây 3 năm thì lớn không nổi luôn, cả thảy đều chuyển màu. Theo ông Luận: “Để duy trì hoạt động sản xuất của người dân thì việc đầu tư xây dựng hệ thống xử lý khí thải nép phải thực hiện. Thứ hai, trước đây có một số hộ từng thí điểm nhưng chất lượng than kém, nhẹ và dễ vỡ dẫn đến giá thấp”.
Nhiều hộ dân trồng cây ăn trái nơi đây phản ảnh, hằng ngày, khói bụi từ các lò hầm than bay ra mờ mịt cả vùng, hủy hoại rau màu, cây xanh trong vườn khiến không ít vườn cây ăn trái bị khói, bụi lò than tàn phá, gây thiệt hại hàng chục triệu đồng trên mỗi ha cây trồng.
Thứ nhất kinh phí cho một hệ thống quá cao, mỗi hệ thống khoảng 20 triệu mà tui tới 12 lò, trong khi đó nó rất hao điện. Bà Bé Ba cho rằng: “Tôi cũng rất muốn sản xuất bảo đảm an toàn cho các vườn cây nhưng không biết xử lý bằng cách nào.
Xóm hầm than Xuân Hòa có từ trước năm 1975, lúc đó chỉ lác đác vài hộ làm thôi, thấy có ăn nên nhiều lò than mọc lên và phát triển nhất là khoảng 10 năm trở lại đây, từ khi Đài Loan và TP Hồ Chí Minh hợp đồng với số lượng lớn thì số lò than tăng lên gấp 3 - 4 lần, giải quyết việc làm cho hàng ngàn lao động địa phương.
Chúng tôi trông coi các ngành chức năng sớm tìm ra biện pháp khắc phục, để làng nghề hầm than Xuân Hòa được “dễ thở” hơn”.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét