Mọi nền văn hóa, mọi nền văn chương trên thế giới đều phải được đồng đẳng. Trong thời đại kỹ thuật số, không phải không có lý khi ai đó cho rằng địa cầu vô vàn yêu quý của chúng ta chỉ là một cái làng lớn. Họ cho rằng: Trong thời đại toàn cầu hóa, nhà văn phải tả được lương tâm của quần chúng. Trong bài viết của mình, Nikolai Preiaxlov đến từ đất nước Nga đã khẳng định: giữ giàng thơ ca dân tộc, đó không chỉ đơn giản là bảo toàn văn hóa khỏi sự vứt bỏ và sự xói mòn bởi những trào lưu văn chương mốt mới.
Những điều nhà văn tài danh này ngẫm nghĩ rất đáng để các nhà văn chúng ta soi mình trong dòng hội nhập toàn cầu hóa bữa nay: trình diễn.
Sarjono (Indonesia) tâm can: Trái tim của những nền văn hóa được gìn giữ và biểu lộ chuẩn y các tác phẩm văn học. Trái tim ấy sẵn sàng cộng tác với những dân tộc của một nhà nước, một nền văn hóa khác, gieo trồng hòa bình trên mảnh đất mỡ màu của tri thức. Người nghệ sĩ là một đứa con của sơn hà mà chỉ có nó mới có thể giao cảm hết những cái vui buồn và nhọc nhằn của người mẹ - cả những điều mà người mẹ không bao giờ nói ra (Trang giấy trước đèn).
Văn hóa là tấm chứng minh thư xác thực nhất của mỗi dân tộc; không biết giữ giàng, bảo toàn và phát triển nó thì mọi cố sáng tạo văn học nghệ thuật, theo tôi sẽ không tới đích, sẽ khó vươn ra nhân loại được. Cũng như vậy, thơ Nguyễn Trãi, thơ Hồ Xuân Hương. Ông tâm tư rằng: Mỗi nhà văn gắn chặt với số phận dân tộc và sơn hà mình – như cái đai của người mẹ quấn quanh mình đứa trẻ.
Khi viết ra những dòng này, tôi lại nhớ tới những suy nghĩ về nghề của một nhà văn quân đội mà tôi rất kính trọng là Nguyễn Minh Châu. # Nước mình và quyết không để một thế lực nào đó làm bá chủ về văn hóa, phải chống sự quay lại của chủ nghĩa thực dân hóa.
Với thi ca, ông cảm nhận: Thơ nhìn vào thế giới từ những đặc điểm riêng và sự dị biệt của nó, thành thử thơ có sức mạnh bảo vệ và phát triển bản sắc văn hóa của mỗi quốc gia, chạm vào trái tim của con người trên khắp thế giới. Trong Liên hoan Thơ quốc tế châu Á-Thái Bình Dương lần thứ nhất được tổ chức vào đầu năm 2012 tại Hạ Long (Quảng Ninh, Việt Nam), tôi đã nghe được điều ấy từ một số thi sĩ nước ngoài.
Toàn cầu hóa là quá trình tất yếu của lịch sử nhân loại, dù ai cố sức bế quan tỏa cảng cũng không ngăn chặn được sự thâm nhập bạo liệt và hờ hững của nó vào nhà nước, dân tộc mình ở nhiều bình diện. Những tập đoàn kinh tế, những công ty xuyên quốc gia không còn là chuyện lạ lẫm với chúng ta. Dù quá trình toàn cầu hóa có diễn tiến quyết liệt và thảm khốc đến bao lăm thì sự quý trọng thành thực các nền văn hóa khác nhau là một trong các yếu tố bảo đảm hòa bình cho nhân loại.
Các nhà nước, các dân tộc trên hành tinh này ít xa vắng hơn nếu như không muốn nói là đang có thiên hướng xích lại gần nhau. Con người làm ra những công cụ vận tải đường không, đường thủy, đường bộ ngày càng đương đại, cùng với hệ thống mạng tinh vi và đổi thay đến chóng mặt kết nối khắp mọi miền trên địa cầu làm cho nhiều câu chuyện "trong nhà chưa tỏ, ngoài ngõ đã thông".
Nhưng cái đáng nói là Truyện Kiều của Tố như thường bị chìm khuất, lép vế sau Đoạn trường tân thanh mà nó đã trở thành tác phẩm đồ sộ, trở thành chói sáng nhóc bởi những câu thơ lục bát tài hoa viết bằng chữ Nôm chỉ có ở Việt Nam thấm đẫm nỗi xót xa nhân loại từ "Những điều trông thấy mà đau đớn lòng".
Giữ gìn thơ ca dân tộc, đó còn có nghĩa là bảo tồn tâm hồn của chính nhân dân, bởi vì chính trong thơ ca đã in dấu các truyền thống sinh hoạt và lễ nghi của nhân dân, những bài ca, những anh hùng ca, huyền thoại và đạo lý nhiều thế kỷ của thánh sư.
Đánh mất bản sắc văn hóa dân tộc là đánh mất thảy. Toàn cầu hóa, đấy là khái niệm quan trọng bậc nhất, thẳng được con người nhắc đến. Và hình như còn hơn thế nữa. Văn hóa nói chung và văn chương nói riêng xoành xoạch là nhịp cầu nối hữu nghị để các dân tộc, các nhà nước xích lại gần nhau.
4. Lòng thương người, tính nhân văn ắp ứa từng con chữ; nhân loại tìm thấy trong bóng vía nàng Kiều của Nguyễn Du những số kiếp tài sắc bạc mệnh, từ đó ghê tởm hờn căm cái ác độc, cái xấu xa và khát khao thăng bình hạnh phúc cho con người bé nhỏ.
NGUYỄN HỮU QUÝ. QĐND - 1. Những bước tiến của tri thức, của khoa học kỹ thuật cần được “bảo hiểm” bởi lòng bác ái và tình thương đồng loại, mà như chúng ta đã biết thi ca và văn chương luôn hướng về điều đó. Cách đây mấy trăm năm, Nguyễn Du sáng tác Truyện Kiều bằng chữ Nôm với thể thơ lục bát của Việt Nam trên cơ sở nội dung một tác phẩm văn xuôi của Thanh Tâm tài nhân (Trung Quốc) là một tỉ dụ về giao thoa văn học.
2. Rất gần đây, trong Hội thảo bàn tròn Vai trò các nhà văn Á-Phi trong thời đại toàn cầu hóa, tổ chức tại trụ sở Hội Nhà văn Việt Nam (9 - Nguyễn Đình Chiểu - Hà Nội), tôi cũng nghe các nhà văn trong và ngoài nước nhiều lần nhấn mạnh đến bản sắc dân tộc. Cũng hướng về dân tộc và Tổ quốc mình, thi sĩ Agus R. Hầu như mọi lĩnh vực, từ kinh tế, chính trị, ngoại giao, quân sự và cố nhiên là cả văn hóa nữa đều bị chi phối bởi cái gọi là toàn cầu hóa.
Mới khẳng định được giá trị tư tưởng và nghệ thuật ở ngoài biên giới Tổ quốc này. Thực ra, sự hòa nhập, giao thoa văn hóa đã có từ lâu, tuồng như nó đi trước cả kinh tế, chính trị. Không chỉ các nhà văn Á-Phi, mà tôi nghĩ rằng, ai là người cầm bút chân chính trên địa cầu – cái làng chung của nhân loại - cũng đều suy nghĩ và mong muốn làm được như thế.
# Chân thực đời sống con người Việt Nam thấu tận chiều sâu triết học, con đường văn chương ta xoành xoạch được cầm tay dân chúng và tìm thấy tiếng nói trong nền văn học thế giới (tùng san văn học, 5 - 1989).
Chẳng riêng gì ta, bản sắc dân tộc là điều thiêng rất được các nhà văn, thi sĩ nước ngoài chú ý.
Chao ôi, nhân loại đang hiện thực hóa những ý tưởng cách đây chưa lâu mấy được coi là viển vông, rồ dại trong dòng chảy cuồn cuộn mang tên toàn cầu hóa. Văn hóa nói chung và văn chương nói riêng của mỗi dân tộc cũng không thể bình an, đứng riêng một cõi. Rõ ràng, thơ ca nói riêng và văn chương nói chung vẫn chưa mất đi giá trị của nó trong việc bảo vệ và phát triển bản sắc văn hóa dân tộc, song song cũng là nhịp cầu nối các nền văn hóa lại với nhau trong tình yêu và khát vọng hòa bình cho nhân loại.
Minh bạch ra một điều, đã có từ xưa, dù có giao thoa hòa nhập đến mức độ nào đi nữa thì cốt cách, hồn mai dân tộc vẫn phải là chủ chốt, vẫn là cái đặc trưng của mình.
Ý niệm ấy có vẻ như đồng thuận với ý niệm của không ít nhà văn, thi sĩ không mang quốc tịch Việt Nam.
Rất mau lẹ, những nhà nước có mức thu nhập làng nhàng như Việt Nam hoặc kém hơn vẫn có thể xài những sản phẩm mới mẻ nhất, hẳn nhiên là rất hiện đại, tinh tướng mà nói theo ngôn ngữ bụi là "hàng khủng" và cũng đắt tiền nhất được sản xuất ra từ những nước G7.
3. Rất, rất nhiều người trong trần giới đông đúc và tò mò hiện giờ chỉ cần nhấp chuột bấm phím máy tính đã nối mạng là có thể biết 24 giờ qua thế giới có những chuyện gì, từ những vụ biểu tình bạo loạn, đánh bom khủng bố đến sáng kiến kỳ quặc là người ta có thể thỏa mãn tình dục khi xa nhau nhờ những bộ đồ lót được số hóa.
Tôi nghĩ, Nguyễn Du đã đi đến cùng tận dân tộc Việt của mình, kể cả nỗi đau và khát vọng nên mới gặp được nhân loại trong mẫu số chung là mong ước về cuộc sống lương thiện, nhân hòa. Tôi rất tâm đắc với ý kiến của nhà văn Fadhl Thamir đến từ I-rắc: Nhà văn phải là những sứ thần chuyển thông điệp của dân tộc mình ra thế giới, ra nhân loại.
Ở góc cạnh này, sự gặp gỡ của quan hệ nội tại dựa trên những tác phẩm văn học sẽ cho chúng ta nhịp lớn để đối thoại về văn hóa và văn minh một cách tôn trọng và hòa bình.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét